Giới thiệu sơ lược về tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp:
Đại học Huế, tiền thân là Viện Đại học Huế, được thành lập năm 1957. Sau năm 1975, mô h́nh tổ chức Viện Đại học chuyển thành các trường đại học chuyên ngành riêng biệt. Ngày 04/04/1994 Chính phủ ban hành Nghị định 30/CP về việc thành lập Đại học Huế trên cơ sở sắp xếp lại các trường đại học, cao đẳng ở khu vực Huế. Hiện nay, Đại học Huế có 7 trường thành viên, 1 Khoa trực thuộc, 1 Viện nghiên cứu, 1 Phân viện tại tỉnh Quảng Trị. Đại học Huế là một đại học trọng điểm trong mạng lưới đại học của cả nước. Đại học Huế hiện có trên 95.000 sinh viên theo học 88 ngành đào tạo khác nhau, trong đó có 23.000 sinh viên hệ chính quy, 22.000 sinh viên hệ vừa học vừa làm và 50.000 sinh viên hệ đào tạo từ xa.
Chức năng,
Nhiệm vụ:
Đại học Huế là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lớn của khu vực. Đại học Huế có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có tŕnh độ cao. Đào tạo và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ chính của Đại học Huế. Ngoài ra, Đại học Huế là đầu mối giao lưu hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực đào tạo, NCKH và trao đổi chuyên gia.
Năng lực:
Đội ngũ khoa học: Đại học Huế có trên 1700 giảng viên và nghiên cứu viên, trong đó có gần 100 Giáo sư, Phó giáo sư 300 Tiến sĩ 640 Thạc sĩ. Từ năm 2000 đến năm 2007, Đại học Huế đă thực hiên 4099 nhiệm vụ KHCN khác nhau, trong đó: 239 nhiệm vụ cấp Nhà nước; 685 đề tài cấp Bộ; 43 đề tài cấp tỉnh; 1410 đề tài cấp cơ sở; 1468 đề tài NCKH của SV; 41 hợp đồng NCKH với các cơ sở SXKD 213 dự án quốc tế. Cơ sở vật chất: Đại học Huế có trên 50 PTN phục vụ cho đào tạo và NCKH, trong đó có những PTN được trang bị hiện đại đáp ứng nhu cầu về đào tạo và nghiên cứu của khu vực miền Trung. Chẳng hạn: ♣Trạm quan trắc môi trường; ♣PTN nghiên cứu môi trường; ♣Trung tâm phân tích khoa học vật nuôi; ♣ PTN công nghệ sinh học phân tử; ♣Trung tâm phân tích; PTN hóa học ứng dụng.
|